QUYỀN CON NGƯỜI

I. QUYỀN CON NGƯỜI - NGÔN NGỮ CHUNG CỦA NHÂN LOẠI
Quyền con người (human rights)là thành tựu chung của cả loài người, là kết tinh của nền văn minh nhân loại. Những thành tựu pháp lý quốc tế về quyền con người hiện nay là sản phẩm của cuộc đấu tranh hết sức lâu dài, gian khổ của toàn thể nhân loại tiến bộ, chống áp bức, bất công, xây dựng cuộc sống tự do, bình đẳng và hạnh phúc.

Quyền con người không chỉ là khái niệm chính trị-pháp lý mà còn là giá trị nhân văn cao quý nhất, với nguồn gốc sâu xa từ những giá trị cổ xưa nhất và trong các loại kinh thánh thuộc các tôn giáo lớn như Kinh Vệ Đà (Đạo Hin Đu), Kinh Phật và Khổng giáo, Tân ước (Đạo Thiên chúa), Kinh Kô ran (Đạo Hồi).

 Vấn đề quyền con người có lịch sử phát triển lâu đời và nội dung rộng lớn, gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người, được thể hiện vào trong các nền triết học nổi tiếng và các học thuyết chính trị khác nhau trên thế giới. Trong suốt chiều dài phát triển của loài người, lịch sử tư tưởng về quyền con người luôn phản ánh khát vọng của con người được sống trong nhân phẩm, tự do, công lý, bình đẳng, loại bỏ sự tàn bạo, áp bức và bất công như được thể hiện sau này trong Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776, Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân của Pháp năm 1789... 


Quyền con người là một trong những thành tựu và động lực và động lực phát triển của xã hội loài người. Cuộc đấu tranh vì quyền con người đã trải qua nhiều thời kỳ lịch sử đầy máu và nước mắt ở khắp nơi trên thế giới. Lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của loài người xét cho cùng là cuộc đấu tranh vì quyền con người. Vì thế, quyền con người là một phạm trù lịch sử và sự hình thành, phát triển của nó gắn liền với quá trình phát triển đầy biến động của lịch sử loài người. Cùng với sự phát triển về kinh tế và xã hội của loài người, nội dung quyền con người tiếp tục phát triển. Cùng với sự phát triển và hoàn thiện pháp luật quốc tế về quyền con người, nhận thức về quyền con người trên toàn thế giới đã không ngừng được tăng lên trong nhiều thập kỷ qua.

Thuật ngữ quyền con người lần đầu tiên có trong nhiều đề xuất của các nước Liên Xô, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Anh trong năm 1944 rồi sau đó được chính thức đưa vào Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 (Charter of the United Nations). Cho đến nay, những đặc tính quan trọng nhất của quyền con người được tất cả các văn kiện của Liên hợp quốc công nhận gồm:

§         Quyền con người được thực hiện trên cơ sở tôn trọng nhân phẩm và giá trị của mỗi con người. Nhà nước có trách nhiệm hàng đầu trong việc thúc đẩy và thực hiện quyền con người.

§          Quyền con người có tính phổ quát (universal), tức là phải được thực hiện trên cơ sở bình đẳng và không phân biệt đối xử với tất cả mọi người.

§         Quyền con người là bất khả xâm phạm (inalienable), không chia cắt (indivisible), liên quan với nhau (interrelated) và phụ thuộc lẫn nhau (interdependent).

Hiên nay, quyền con người đã trở thành vấn đề thu hút sự chú ý rộng rãi của dư luận thế giới, một nhân tố không kém phần quan trọng trong các chương trình nghị sự và văn kiện của các hội nghị quốc tế, các tổ chức quốc tế và khu vực, cũng như các hiệp định song phương và đa phương.

     
      II.  LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

Các văn kiện quốc tế về quyền con người (international human rights instruments)

Một trong những thành tựu lớn nhất của Liên hợp quốc trong thế kỷ 20 là lần đầu tiên con người trong lịch sử của mình đã tạo dựng được một hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người chủ yếu gồm những điều ước (treaties) được thể hiện ở các hiến chương(charters), công ước (conventions, covenants)...có giá trị pháp lý ràng buộc với các quốc gia thành viên (qua gia nhập hay phê chuẩn), cũng như các văn bản khác tuy không có giá trị pháp lý ràng buộc với những quốc gia thành viên song lại có giá trị và ý nghĩa rất lớn về đạo đức và xã hội như tuyên ngôn (declarations), hướng dẫn (guidelines), nguyên tắc (principles), khuyến nghị(recommendations), quy tắc (rules)...được các quốc gia thừa nhận và tôn trọng. Hệ thống này gồm hàng trăm văn kiện đã và đang được tất cả các quốc gia và các tổ chức quốc tế trên thế giới tán thành, chấp nhận làm cơ sở và khuôn khổ pháp lý cho việc thực hiện và bảo vệ quyền con người. 
     
Hiến chương Liên hợp quốc được Liên hợp quốc thông qua ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc vào năm 1945. Đây là văn bản quốc tế rất quan trọng, cơ bản và là văn bản quốc tế đầu tiên trải qua hơn 60 năm thử thách vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý và các ý nghĩa xã hội, trong đó có các điều khoản về bảo vệ và thực hiện “quyền con người cho tất cả mọi người” (human rights for all). Hiến chương đã đặt nền móng đầu tiên cho việc thiết lập một cơ chế pháp lý quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trên thế giới. Lời mở đầu của Hiến chương khẳng định: “tin tưởng vào những quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, vào quyền bình đẳng giữa các nước lớn và nhỏ”. Điều 3 kêu gọi các quốc gia “thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng quyền con người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người mà không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo”. Hiến chương kêu gọi tất cả các nước hành động phối hợp với Liên hợp quốc để đạt được việc tôn trọng và thực hiện quyền con người trên toàn thế giới. 
Bộ luật quốc tế về quyền con người (the International Bill of Human Rights)

Vào ngày 10-12-1948 tại Lâu đài Chailót ở Pari (Pháp), 48 trong số 58 nước thành viên đầu tiên của Liên hợp quốc đã thông quaTuyên ngôn thế giới về quyền con người (the Universal Declaration of Human Rights) đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình phát triển xã hội loài người. Đây là lần đầu tiên mà các quyền cơ bản  và tự do kể trên của con người đã được cộng đồng quốc tế công nhận và được đảm bảo bằng một văn kiện pháp lý chính thức. Mặc dù không phải là một văn bản có giá trị pháp lý ràng buộc, không có cơ chế đảm bảo và hệ thống chế tài đối với các hành vi vi phạm, Tuyên ngôn đã được toàn thế giới chấp nhận là nền tảng pháp lý cho việc xây dựng các công ước quốc tế về quyền con người làm cơ sở hình thành hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người hiện nay.

Đã 60 năm qua kể từ năm 1948 đến nay, có rất nhiều công ước và các văn kiện khác về quyền con người cũng được xây dựng dựa trên các nguyên tắc của Tuyên ngôn. Đây cũng là văn kiện quốc tế được trích dẫn nhiều nhất về vấn đề quyền con người và hiện đã được dịch ra hơn 350 ngôn ngữ trên thế giới, trong đó có tiếng Việt. Từ đó đến nay, Liên hợp quốc lấy ngày 10 tháng 12 là Ngày thế giới về quyền con người (the World Human Rights Day).

Kể từ khi có Tuyên ngôn, vấn đề quyền con người được chú trọng hơn bao giờ hết trên chính trường quốc tế. Trên thực tế, Tuyên ngôn đã mở ra một kỷ nguyên mới cho những cam kết và hành động quốc tế trong việc đảm bảo các quyền cùng tự do cơ bản của con người và coi đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho cuộc đấu tranh vì quyền tự quyết của các dân tộc, kể cả quyền lựa chọn con đường phát triển của chính họ. Những nhóm dân cư thiệt thòi và dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người thiểu số và người bản địa, người tàn tật...được xác định là có các quyền bảo vệ khỏi những tập tục phân biệt đối xử vốn tồn tại lâu đời ở nhiều quốc gia và trong nhiều nền văn hóa trên thế giới. Tuyên ngôn coi quyền con người là cơ sở tiền đề cho hoà bình, công lý, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nhiều nước, đặc biệt những nước mới giành được độc lập từ ách thực dân đã trích dẫn hoặc đưa toàn bộ nội dung của Tuyên ngôn vào hiến pháp và pháp luật của nước mình. Tuyên ngôn, gồm Lời nói đầu và 30 điều ghi nhận thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài vì phẩm giá và các quyền của con người với nội dung đã quán triệt ý tưởng cao đẹp được khẳng định trong Lời nói đầu của Hiến chương Liên hợp quốc: phòng ngừa cho những thế hệ tương lai khỏi thảm họa chiến tranh đã hai lần trong một đời người gây cho nhân loại đau thương khôn xiết, tuyên bố một lần nữa sự tin tưởng vào những quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người, ở quyền bình đẳng giữa nam và nữ, giữa các nước lớn và nhỏ. Quyền con người là một giá trị - một giá trị chung của toàn thể loài người và của mỗi dân tộc, là ”chuẩn mực chung cho tất cả các dân tộc và các quốc gia phấn đấu thực hiện” (the common standard of achievement for all peoples and all nations)..

Hai điều đầu tiên của Tuyên ngôn khẳng định rằng: tất cả mọi người, không phân biệt, sinh ra đều tự do, bình đẳng về phẩm giá và các quyền và nhấn mạnh các nguyên tắc cơ bản của sự bình đẳng, không phân biệt trong việc hưởng các quyền và tự do cơ bản.

19 điều tiếp theo (từ điều 3 đến điều 21) quy định các quyền dân sự và chính trị (civil and political rights) mà là con người phải được hưởng gồm:

§         Quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân (điều 3).
§         Quyền không bị làm nô lệ hoặc nô dịch (điều 4).
§         Quyền không bị tra tấn, bị đối xử hay trừng phạt tàn tệ vô nhân đạo (điều 5).
§         Quyền được thừa nhận tư cách như một con người trước pháp luật (điều 6).
§         Quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ (điều 7).
§         Quyền được bảo vệ khỏi những hành vi vi phạm quyền con người bằng những toà án với những phương tiện pháp lý có hiệu lực (điều 8).
§         Quyền không bị bắt bớ, giam cầm hay đầy ải vô cớ (điều 9).
§         Quyền được xét xử công minh và công khai trước một toà án độc lập, không thiên vị (điều 10).
§         Quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội được chứng minh, và không bị coi là phạm tội về một hành động mà trong thời gian xảy ra chưa cấu thành một tội hình sự (điều 11).
§         Quyền được luật pháp bảo vệ không bị can thiệp vào đời tư, gia đình, chỗ ở hoặc thư tín, không bị xâm hại danh dự hay uy tín cá nhân (điều 12).
§         Quyền tự do đi lại và cư trú, bao gồm quyền rời khỏi hoặc trở lại quốc gia  của mình (điều 13).
§         Quyền tỵ nạn (điều 14).
§         Quyền có quốc tịch  (điều 15).
§         Quyền tự do kết hôn và xây dựng gia đình (điều 16).
§         Quyền sở hữu tài sản riêng (điều 17).
§         Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo (điều 18).
§         Quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt  (điều 19).
§         Quyền tự do hội họp và lập hội (điều 20).
§         Quyền tham gia quản lí đất nước và tham gia bình đẳng vào các công việc chung của đất nước (điều 21).

7 điều tiếp theo (từ điều 22 đến 28) của Tuyên ngôn đề cập đến các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (economic, social and cultural rights) gồm:

§         Quyền được bảo đảm an ninh xã hội (điều 22).
§         Quyền làm việc và được trả lương ngang nhau cho những công việc như nhau, được trả lương xứng đáng và hợp lý để đảm bảo cho một cuộc sống có giá trị như một con người, được thành lập hoặc gia nhập công đoàn (điều 23).
§         Quyền nghỉ ngơi, giải trí (điều 24).
§         Quyền có một mức sống thích đáng và được bảo hiểm. Phụ nữ và trẻ em được giúp đỡ đặc biệt (điều 25).
§         Quyền được học tập (điều 26).
§         Quyền được tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng thức văn hóa-nghệ thuật, quyền được bảo hộ các lợi ích vật chất và tinh thần phát sinh từ các sáng tạo khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình (điều 27).
§         Quyền được sống trong một trật tự xã hội và quốc tế, mà trong đó các quyền và tự do cơ bản nêu ra trong Tuyên ngôn được thực hiện một cách đầy đủ (điều 28).

Các nhóm quyền con người cơ bản là dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá được xác định cụ thể trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (the International Covenant on Civil and Political Rights) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 (the International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16-12-1966. Đây là những thoả thuận về quyền con người đầu tiên của Liên hợp quốc có tính chất ràng buộc chặt chẽ mang tính pháp lý dưới hình thức công ước - những trụ cột đầu tiên của pháp luật quốc tế về quyền con người.

Có ba điểm chung giữa hai công ước này là:

§         Quyền tự quyết dân tộc (dẫn tới việc phi thực dân hoá và nhiều quốc gia được độc lập rồi trở thành thành viên Liên hợp quốc).
§         Nguyên tắc bình đẳng nam nữ và không phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính, sắc tộc, chủng tộc, mầu da, tín ngưỡng... 
§         Nguyên tắc không tách rời mà gắn nối, liên kết giữa 5 nhóm quyền.

Hai công ước này và hai nghị định thư bổ sung là Nghị định thư không bắt buộc thứ nhất của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (the First Optional Protocol to the International Covenant on Civil and Political Rights) và Nghị định thư không bắt buộc thứ hai của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị nhằm xoá bỏ án tử hình năm 1989 (the Second  Optional Protocol to the International Covenant on Civil and Political Rights, aiming at the Abolition of the Death Penalty) cùng Tuyên ngôn thế giới về quyền con người tạo thành bộ luật quốc tế về quyền con người.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét